Cơ chế quản lý kinh tế thời kỳ trước đổi mới
   Tiểu luận triết học   Tiểu luận Kinh tế chính trị   Tiểu luận CN Xã hội khoa học
   Quản trị Nhân lực, lao động   Marketing - Bán hàng   Tiểu luận lịch sử Đảng
   Tiểu luận văn học, nghệ thuật   Tiểu luận vi mô, vĩ mô   Tư tưởng Hồ Chí Minh
 

Cơ chế quản lý kinh tế thời kỳ trước đổi mới

Cơ chế kế hoạch hóa tập trung (kinh tế mệnh lệnh): cơ chế mà theo đó chính quyền trung ương sẽ điều khiển toàn bộ các khu vực kinh tế và đưa ra mọi quyết định về quá trình sản xuất và phân phối hàng hóa, dịch vụ. Nhà chức trách quyết định các loại hàng hóa cần sản xuất, điều hành các cơ quan cấp dưới để sản xuất theo mục tiêu quốc gia và xã hội. Các nền kinh tế kế hoạch hóa quan trọng đã từng xuất hiện như Liên bang Xô-viết (cũ), Trung Quốc trước 1978 và Ấn Độ trước 1991… Ở nước ta, kể từ sau cách mạng và thành lập nhà nước xã hội chủ nghĩa, cả dân tộc trở thành một khối, nhà nước nắm giữ toàn bộ tư liệu sản xuất và đưa ra các kế hoạch lớn cho cả nước như kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961-1965), kế hoạch 5 năm lần thứ hai (1976-1980), kế hoạch 5 năm lần thứ ba (1981-1985).

Trước đổi mới, cơ chế quản lý kinh tế nước ta là cơ chế kế hoạch hóa tập trung với những đặc điểm chủ yếu là:

Thứ nhất, nhà nước quản lý nền kinh tế chủ yếu bằng mệnh lệnh hành chính dựa trên hệ thống chỉ tiêu pháp lệnh chi tiết áp đặt từ trên xuống dưới. Các doanh nghiệp hoạt động trên cơ sở các quyết định của nhà nước có thẩm quyền và các chỉ tiêu pháp lệnh được giao. Tất cả phương hướng sản xuất, nguồn vật tư, tiền vốn, định giá sản phẩm, tổ chức bộ máy, nhân sự, tiền lương…đều do các cấp thẩm quyền quyết định. Nhà nước giao chỉ tiêu kế hoạch, cấp phát vốn, vật tư cho doanh nghiệp, doanh nghiệp giao nộp sản phẩm cho nhà nước. Lỗ thì nhà nước bù, lãi thì nhà nước thu. Chẳng hạn sau khi giải phóng Sài Gòn, nhà nước tiếp quản Hãng dệt Tái Thành và đổi tên là Dệt Thành Công. Hàng năm, nhà nước sẽ cung cấp nguyên vật liệu và vốn lưu động. Dệt Thành Công được giao chỉ tiêu sản xuất 3 triệu m2 vải/ năm. Năm 1978, giá thành 1m2 vải calicot sản xuất tại xưởng của công ty Dệt Thành Công là 1,5 đồng/m2. Thế nhưng tất cả lượng sản phẩm có được, công ty đều phải bán cho nhà nước với giá 1,2 đồng/m2. Trong khi đó giá ở thị trường tự do thì cao gấp 10-12 lần.

Thứ hai, các cơ quan hành chính can thiệp quá sâu vào hoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp nhưng lại không chịu trách nhiệm gì về vật chất và pháp lý đối với các quyết định của mình. Những thiệt hại do các quyết định không đúng gây ra thì ngân sách nhà nước phải gánh chịu. Các doanh nghiệp không có quyền tự chủ sản xuất, kinh doanh, cũng không bị ràng buộc trách nhiệm đối với sản xuất, kinh doanh. Có thể lấy trường hợp một công ty khai thác than ở Thái Nguyên làm ví dụ. Năm 1979, công ty này được giao chỉ tiêu 150000 tấn trong khi các công ty khách hàng đang gặp khó khăn, không cần nhiều đến than. Kho bãi công ty không thể chứa hết nhưng vẫn phải hoàn thành chỉ tiêu được giao nên công ty đã chọn giải pháp là vừa khai thác vừa đem than đổ đi. Cuối cùng, đơn vị vẫn nhận được bằng khen vì đã hoàn thành chỉ tiêu cấp trên giao.

Thứ ba, quan hệ hàng hóa - tiền tệ bị coi nhẹ, chỉ là hình thức, quan hệ hiện vật là chủ yếu. Nhà nước quản lý kinh tế thông qua chế độ “cấp phát - giao nộp”. Vì vậy rất nhiều hàng hóa quan trọng như sức lao động, phát minh sáng chế, tư liệu sản xuất quan trọng, không được coi là hàng hóa về mặt pháp lý. Một cán bộ hay công nhân vào giai đoạn này  70% thu nhập là tem phiếu, 30% còn lại là lương. Khi công ty không có tiền, công nhân được trả lương bằng sản phẩm: sứ tích điện, cao su, mũ cứng…Hoặc một trường hợp khác, vào năm 1978, An Giang thành lập hợp tác xã Hòa Bình Thạnh, toàn bộ hơn 70 cỗ máy cày, bừa, bơm, xới… đều được công hữu hóa. Các xã viên sẽ làm việc cùng nhau. Sau mỗi buổi, cán bộ hợp tác xã ghi điểm từng người. Điểm này sau đó sẽ được quy ra thóc.

Thứ tư, bộ máy quản lý cồng kềnh, nhiều cấp trung gian vừa kém năng động vừa sinh ra đội ngũ kém năng lực, phong cách cửa quyền, quan liêu nhưng lại được hưởng quyền lợi cao hơn người lao động. Ví dụ các cửa hàng lương thực, hệ thống tem phiếu và quầy hàng tết, cán bộ cao cấp có cửa hàng phục vụ riêng tại phố Tôn Đản, cán bộ trung cấp đến phố Nhà Thờ, Vân Hồ, Đặng Dung và Kim Liên; còn cán bộ, công nhân, viên chức bình thường và nhân dân mua ở các cửa hàng rải rác trong thành phố.

Trên đây là tóm tắt của tài liệu:" Cơ chế quản lý kinh tế thời kỳ trước đổi mới ". Trong toàn văn không có lỗi chính tả. Để đọc toàn văn xin nhấn Download

Danh mục
Tiểu luận lịch sử Đảng
Mã tài liệu LSD.00072  Type:   Word (.doc)
Mức phí 500 điểm  Tài khoản của bạn có: điểm
Nhấn Like để có cơ hội nhận 15.000 điểm thưởng
Khuyến mại
Tặng 100% giá trị thẻ cào điện thoại
Nhấn Thanh toán
Giảm tối đa chi phí để có một tài liệu chất lượng
Thanh to�n an toan với Bảo Kim !
 Hỗ trợ viên
  Chat with Elib  Chat with Elib Chat with Elib 
Lưu ý: Vui lòng tắt phần mềm hỗ trợ download trước khi tải tài liệu (Hướng dẫn)
Nạp điểm bằng thẻ cào tặng 100% giá trị điểm nạp (Khuyến mại mới)
info@thuvientructuyen.vn ( 24/24H ) - : 0983.126.663-0975.451.311 ( 8AM - 12PM )
BẠN CÓ THỂ TÌM KIẾM NỘI DUNG BỔ SUNG Ở ĐÂY NHÉ
       
Tài khoản
Mật khẩu
Lưu mật khẩu

Bạn chưa có tài khoản ?

Đăng ký | Quên mật khẩu

Sách hay
Thay Thái Độ Đổi Cuộc Đời
Sách nói
Bí Quyết Tay Trắng Trở Thành Triệu Phú
Sách nói
Bí mật tư duy triệu phú
Sách nói
Phút Dành Cho Cha
Sách nói
Xem thêm

DMCA.com Protection Status